CHUYÊN ĐỀ: AN NINH MẠNG, BẢO MẬT THÔNG TIN, AN NINH DỮ LIỆU-KỲ 1: KHUNG PHÁP LÝ, NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ VÀ CÁC HÀNH VI NGHIÊM CẤM

Admin
10/10/26
0
137 lượt xem

Bài viết phân tích các nguyên tắc cốt lõi và hệ thống điều cấm theo Quyết định số 6643/QĐ-TBANM của Tiểu ban An ninh mạng Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là cẩm nang định hướng giúp thủ trưởng cơ quan và cán bộ công chức chủ động nhận diện rủi ro, bảo vệ an toàn thông tin.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Thiết lập chuẩn mực an ninh thông tin trong toàn hệ thống chính trị

Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số gắn liền với yêu cầu bảo vệ chủ quyền số quốc gia, công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin nội bộ trở thành nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu. Quyết định số 6643/QĐ-TBANM ngày 07 tháng 10 năm 2026 của Tiểu ban An ninh mạng Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Hướng dẫn chi tiết nhằm thống nhất nhận thức và quy chuẩn hóa hành động trong toàn bộ các cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn.

Về phạm vi áp dụng, hướng dẫn điều chỉnh toàn diện các hoạt động quản lý, vận hành và khai thác hệ thống thông tin của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp cũng như cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động trực tiếp tham gia xử lý dữ liệu công vụ. Toàn bộ hoạt động kỹ thuật và nghiệp vụ an ninh mạng đều đặt dưới sự điều chỉnh tối cao của Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025.

Nguyên tắc cốt lõi trong công tác quản trị và bảo vệ hệ thống

Dưới góc độ chuyên môn về quản trị an ninh thông tin nhà nước, tài liệu hướng dẫn đã xác lập hai nguyên tắc điều hành mang tính bản lề mà người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị bắt buộc phải quán triệt sâu sắc:

Nguyên tắc thứ nhất gắn liền với trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện và trực tiếp chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn dữ liệu theo phương châm hành động “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Việc phân định cụ thể này giúp xóa bỏ tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc xem nhẹ công tác an toàn kỹ thuật, bảo đảm mọi mắt xích vận hành đều có người phụ trách cụ thể.

Nguyên tắc thứ hai là bài toán tối ưu hóa nguồn lực theo tôn chỉ “bảo vệ đúng, đầu tư đủ”. Mỗi cơ quan, đơn vị phải căn cứ vào quy mô, điều kiện thực tế để bố trí nhân lực và phương tiện kỹ thuật phù hợp. Trọng tâm là nghiên cứu, đánh giá chính xác mức độ quan trọng của từng tài sản thông tin để phân bổ nguồn lực khoa học, tối ưu, tránh dàn trải và triệt tiêu nguy cơ gây lãng phí ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, các thuật ngữ nền tảng cũng được định danh rõ ràng. An ninh mạng được xác định là sự ổn định, an toàn không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội. An ninh thông tin mạng đòi hỏi duy trì đầy đủ ba thuộc tính then chốt gồm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin. Đồng thời, an ninh dữ liệu tập trung bảo đảm chất lượng dữ liệu và các quy trình xử lý dữ liệu phục vụ tiến trình chuyển đổi số.

Nhận diện và loại trừ bảy hành vi nghiêm cấm trong cơ quan công quyền

Để xây dựng một lá chắn vững chắc cho không gian mạng công vụ, hướng dẫn quy định chi tiết 07 nhóm hành vi nghiêm cấm tuyệt đối, đóng vai trò như những “lằn ranh đỏ” về kỷ luật công nghệ mà mỗi cán bộ, công chức phải tuân thủ nghiêm ngặt:

Thứ nhất, nghiêm cấm việc kết nối máy tính và các thiết bị ngoại vi như máy in, máy sao chụp, máy quét, ổ cứng di động, thẻ nhớ chưa qua kiểm tra đánh giá an toàn vào các máy tính hoặc hệ thống mạng nội bộ cục bộ độc lập được thiết lập riêng cho việc soạn thảo, lưu giữ, gửi nhận tài liệu chứa bí mật nhà nước.

Thứ hai, nghiêm cấm tuyệt đối hành vi kết nối trực tiếp các máy tính, hệ thống mạng nội bộ độc lập dùng cho bí mật nhà nước vào mạng thông tin toàn cầu hoặc các mạng diện rộng không an toàn; cấm liên kết gián tiếp qua các thiết bị ngoại vi không bảo đảm, trừ các giải pháp bảo mật chuyên dụng do Ban Cơ yếu Chính phủ trực tiếp triển khai.

Thứ ba, nghiêm cấm hành vi tự ý thay đổi thiết kế, cấu hình hệ thống mạng cơ quan; tự ý gỡ bỏ các giải pháp an toàn cài sẵn trên thiết bị công nghệ thông tin công vụ hoặc tự ý tháo lắp, thay thế, tráo đổi linh kiện phần cứng máy móc phục vụ công tác.

Thứ tư, nghiêm cấm mọi hành vi gây cản trở hoạt động cung cấp dịch vụ bình thường của hệ thống thông tin, cũng như ngăn chặn quyền truy nhập thông tin hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng khi không được pháp luật cho phép.

Thứ năm, nghiêm cấm hành vi bẻ khóa, chiếm đoạt, sử dụng trái phép mật khẩu truy cập, khóa mật mã và các nguồn thông tin thuộc quyền quản lý của cơ quan, cá nhân khác.

Thứ sáu, nghiêm cấm triệt để các hành vi thu thập, sử dụng, phát tán, chuyển giao, mua bán trái phép dữ liệu cá nhân theo quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và các quy chuẩn pháp luật liên quan.

Thứ bảy, nghiêm cấm mọi hành vi khác dẫn đến nguy cơ làm thất thoát bí mật, mất an toàn thông tin của các cơ quan, đơn vị được trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ trên không gian số.

Nắm vững các nguyên tắc và ranh giới cấm nêu trên chính là bước chuẩn bị căn bản nhất trước khi các đơn vị bước vào quá trình chuẩn hóa hệ thống kỹ thuật và tổ chức mô hình bảo vệ chuyên sâu.

Tác giả: PHẠM ANH DŨNG – PHÒNG CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP