Dự án ngành thép: Xé quy hoạch, lãng phí tài nguyên
04:38 (23/05/2011)
Congthuonghcm - Quy hoạch ngành thép liên tục bị phá vỡ không chỉ bởi những dự án to như “con voi”, mà cả những dự án bé như “con chuột”. Vấn đề đặt ra có phải ngành thép đang nằm ngoài vòng pháp luật?



Ảnh minh họa

Công nghệ lạc hậu

Trong cơ cấu, tổng sản phẩm ngành thép là 9 triệu tấn/năm, sản xuất phôi 4 triệu tấn/năm, còn lại là gia công. Theo ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong những năm qua, ngành thép chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm gia công với tiêu thụ điện ít như cán nguội, gia công, mạ, bởi tiêu thụ điện cho các khâu này chiếm 1,5% trong giá thành (trung bình 100-120kWh/tấn). Trong khi đó, luyện phôi, thép phế tiêu tốn gấp 4-5 lần gia công thép (trung bình 600kWh/tấn).

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp thép sử dụng công nghệ tiên tiến, mức tiêu thụ chỉ khoảng 350kWh/tấn. Nhưng thực tế sản xuất thép ở nước ta hiện nay công nghệ lạc hậu và công nghệ mới vẫn sống chung. Trong số 32 doanh nghiệp thuộc VSA chỉ có 4 doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến của thế giới, 10 doanh nghiệp có cải tiến công nghệ, còn lại là công nghệ cũ.

Theo TS. Nguyễn Văn Sưa, nguyên Viện trưởng Viện Luyện kim đen (Bộ Công Thương),những nhà máy lạc hậu, có quy mô nhỏ (công suất 5.000-20.000 tấn/năm), sử dụng thiết bị tự chế tạo đã khiến chất lượng sản phẩm thấp, tiêu hao vật tư và năng lượng cao, làm ô nhiễm môi trường và giá thành sản phẩm không có sức cạnh tranh. Đến nay ngành thép vẫn phụ thuộc bên ngoài về nguyên nhiên liệu chính. Để trụ vững trong bối cảnh hội nhập đòi hỏi ngành thép nước ta phải có công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến mới có thể phát triển.

Việt Nam hiện đang sử dụng phổ biến công nghệ luyện phôi chính là lò cao và lò điện. Loại lò cao luyện thép từ gang, than cốc, than mỡ và chuyển thổi oxy, có ưu điểm ít tiêu tốn điện năng, cho ra sản phẩm chất lượng cao. Loại lò này đòi hỏi người điều khiển phải là kỹ sư với những yêu cầu rất khắt khe trong quá trình điều chỉnh nhiệt độ, nguyên liệu, năng lượng… Nhưng nhược điểm của loại lò này là phải hoạt động liên tục, mỗi lần ngừng lò phải khởi động lại sẽ tốn một nguồn điện lớn.

Lò cao còn gây ô nhiễm môi trường do thải ra xỉ than, xỉ quặng. Suất đầu tư ban đầu ở lò cao cũng cao hơn lò điện hồ quang, khi hoạt động phải chủ động được nguyên liệu quặng sắt, than cốc, than mỡ và gang. Hiện nay chỉ có Công ty Gang thép Thái Nguyên chủ động được, vì thế các doanh nghiệp khác đều sử dụng lò điện hồ quang và thép phế để sản xuất thép.

Công nghệ lò điện có ưu điểm là tái sử dụng được sản phẩm đã qua sử dụng, không ô nhiễm môi trường và chu trình sản xuất ngắn. Sản phẩm làm ra có chất lượng, năng suất cao. Do vậy, lò điện vẫn là công nghệ phù hợp nhất với ngành công nghiệp sản xuất thép nước ta. Nhưng lò điện lại tiêu tốn điện, trung bình 350-600kWh điện cho 1 tấn phôi, 850-900kWh điện cho 1 tấn phôi đối với lò điện trung tần. Điều đáng nói, loại lò điện trung tần đang được sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp luyện phôi nhỏ do suất đầu tư thấp, giá thành công nghệ rẻ (công suất trên dưới 1 triệu tấn), nhập từ Trung Quốc do các nhà máy luyện phôi nước này thải ra.

Bất ổn quy hoạch

Theo VSA, hiện nay các đầu tư mới, mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp như thép Miền Nam, Hòa Phát, Thép Việt, Posco đều ứng dụng công nghệ hiện đại của Italia với mức tiêu tốn năng lượng ít, năng suất cao, chất lượng phù hợp với năng lực, môi trường sản xuất trong nước. Những nhà máy luyện phôi mới xây dựng trong 2 năm trở lại đây đều có công suất 500.000 tấn/năm.

Có thể nói, diện mạo ngành thép đang sáng sủa hơn nhờ đầu tư lớn, công nghệ hiện đại thay cho bức tranh lộn xộn, vụn vặt, manh mún. Nhưng đáng tiếc chỉ có 4-5 trong hàng trăm doanh nghiệp thép đầu tư công nghệ đến nơi đến chốn. Những nhà máy thép công suất nhỏ (vài chục ngàn tấn/năm) vẫn tồn tại, bất chấp vi phạm quy hoạch ngành và hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường.

Cả nước hiện nay có 65 dự án sản xuất gang thép công suất 100.000 tấn/năm trở lên (chưa kể các dự án của Tổng công ty Thép quản lý). Trong đó có 58 dự án trong nước, liên doanh và 7 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 41.623 tỷ đồng và 19,8 tỷ USD (chưa kể những nhà máy công suất vài chục ngàn tấn/năm). Đáng lưu ý trong số các dự án trên chỉ 17 dự án trong quy hoạch, 16 dự án được bổ sung quy hoạch, còn lại 32 dự án do các địa phương tự cấp phép không theo quy hoạch, chưa có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và không thỏa thuận với Bộ Công Thương theo quy định.

Tính đến nay, ngành thép đã đáp ứng gần 70% nhu cầu về phôi thép vuông, 50% thép cán nguội, 100% thép cán xây dựng, góp phần đảm bảo bình ổn nhu cầu sản xuất và tiêu thụ. Theo dự kiến, đến năm 2015 nước ta cần khoảng 15 triệu tấn thép, năm 2020 là 20 triệu tấn. Nếu các dự án thực hiện đúng công suất thiết kế (35,29 triệu tấn/năm), cung sẽ vượt cầu khoảng 1,5-1,8 lần (đặc biệt là thép tấm, lá).

Hiện nay, 3 dự án sản xuất thép tấm cán nóng có trong quy hoạch gồm: Nhà máy thép liên hợp Hà Tĩnh, Khu liên hợp Cà Ná - Ninh Thuận và Nhà máy thép tấm cán nóng Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng khả năng tiếp tục triển khai đang gặp nhiều khó khăn. Nếu 3 dự án này hoàn thành, sản lượng thép sẽ đạt khoảng 26 triệu tấn/năm (so với cầu vẫn vượt 1,2-1,3 lần). Thời gian gần đây, dù VSA đã nhiều lần lên tiếng phản đối song vẫn có nhiều dự án thép được cấp mới và đều là những dự án “khủng” về công suất, vốn đầu tư. Tuy nhiên, đa số những dự án này đình hoãn liên tục ngày khởi công và đua nhau xin nâng công suất.

 

SG Đầu tư tài chính

 

Quảng cáo