Thị trường Trung Quốc- cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam
04:32 (16/05/2011)
Congthuonghcm - Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, Trung Quốc vẫn là một nền kinh tế có mức độ tăng trưởng dẫn đầu thế giới. Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc có sức thu hút lớn đối với doanh nghiệp nhiều nước.



Các mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là dưa hấu, chuối, xoài, mít, măng cụt, ớt, khoai lang...

Việt Nam không những thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp Trung Quốc và ngược lại, Trung Quốc được nhìn nhận như một thị trường tiềm năng lớn trong tương lai. Đây là cơ hội lớn để cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển những mặt hàng chủ lực đối với thị trường này nhưng cũng song hành không ít rủi ro tiềm ẩn. Đó là nhận định của ông Đào Ngọc Chương, Phó Vụ trưởng Vụ thị trường châu Á- Thái Bình Dương, người đã có hơn 10 năm kinh nghiệm với thị trường Trung Quốc.

Theo ông Đào Ngọc Chương, Trung Quốc là thị trường láng giềng lớn nhất của Việt Nam, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có nhiều nét giống nhau. Thương mại hai bên được tiến hành theo nhiều phương thức mậu dịch phong phú (chính ngạch, buôn bán qua biên giới, tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu, trao đổi hàng hóa giữa cư dân biên giới hai nước).

Hiện Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, là thị trường lớn nhất về nhập khẩu và đứng thứ ba về xuất khẩu, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tuy nhiên, Việt Nam đang nhập siêu từ Trung Quốc, do vậy việc tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh và xuất khẩu hàng hóa ngược sang Trung Quốc được đánh giá là bài toán khó đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Kim ngạch mậu dịch song phương hai nước đã tăng từ mức 37,7 triệu USD năm 1991 lên mức 27 tỷ USD năm 2010, tăng 710 lần. Kể từ năm 2004, Trung Quốc đã trở thành đối tác thuơng mại lớn nhất của Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng trở thành đối tác thương mại ngày càng quan trọng của Trung Quốc.

Theo đó, năm 2010, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt 27,33 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2009, trong đó, Việt Nam xuất khẩu 7,3 tỷ USD, tăng 49%, nhập khẩu 20,2 tỷ USD tăng 21%.

Từ đầu năm 2011 đến nay, hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc tăng liên tục, trong khi nhập khẩu lại giảm khá mạnh.

Ông Trần Văn Nghĩa- Phó chi cục trưởng Chi cục hải quan Tân Thanh, Lạng Sơn-cho biết, hiện nay chi cục tiếp nhận và xử lý khoảng 50 lượt xe nhập khẩu và 100 lượt xe xuất khẩu hàng ngày. Theo ông Nghĩa, so với năm trước, lượng hàng nhập khẩu cho đến thời điểm này đã giảm khá mạnh.

Theo thống kê của Công ty cổ phần Tam Thanh, chủ đầu tư khu kiểm hóa Tân Thanh và chịu trách nhiệm điều phối xe vào bãi kiểm hóa, trong 4 tháng đầu năm 2011, chỉ có tháng 2 là lượng hàng xuất nhập giảm do rơi vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán. Từ tháng 2 đến nay, lượng xe xuất khẩu tăng mạnh so với các tháng trước và so với lượng xe nhập khẩu.

Nếu như trong tháng 2, có khoảng 2.693 lượt xe xuất khẩu, so với 1.804 lượt nhập khẩu từ Trung Quốc thì đến tháng 4, có 7.251 lượt xe xuất khẩu so với 2.257 lượt xe nhập khẩu.

Các mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là dưa hấu, chuối, xoài, mít, măng cụt, ớt, khoai lang... Hàng nhập khẩu qua cửa khẩu Tân Thanh cũng chủ yếu là nông sản.

Ông Đào Ngọc Chương cho biết, mới đây, Thứ trưởng Thương mại Trung Quốc Khương Tăng Vĩ thể hiện mong muốn Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện tình hình mất cân bằng thương mại song phương.

Trung Quốc sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam xúc tiến thương mại sang thị trường này với việc tổ chức các hội chợ thương mại, các đoàn khảo sát… Bộ Thương mại Trung Quốc cũng sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp có thực lực ở nước này sang đầu tư tại Việt Nam nhằm thu hẹp khoảng cách thương mại.

Theo ông Đào Ngọc Chương, hiện tại hành lang pháp lý cho trao đổi thương mại hai nước ngày càng hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế. Tình hình xuất khẩu tăng trưởng tương đối nhanh. Trung Quốc đã cung cấp có hiệu quả những mặt hàng nhiên liệu, nguyên liệu có tính chiến lược đối với nền kinh tế của Việt Nam.

Nhu cầu của Trung Quốc từ Việt Nam là rất lớn với nhiều loại hàng từ cao su, hoa quả nhiệt đới, cà phê, đồ gỗ cao cấp, thủy hải sản đến hàng tiêu dùng, các loại hạt và gia vị… Trong đó, Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, vì nước này đang tăng cường sản xuất ôtô, đây được xem là cơ hội lớn cho Việt Nam vốn có lợi thế về cao su thiên nhiên. Vì vậy, Việt Nam nên cố gắng khai thác tối đa thị trường này- ông Chương cho biết.

Tuy nhiên, cũng theo ông Chương, song hành với những tiềm năng mà Trung Quốc đem lại cho Việt Nam thì vẫn còn những rủi ro khó lường mà chúng ta phải cảnh giác đề phòng.

Đặc biệt, để tránh bị lừa đảo, doanh nghiệp Việt Nam có thể yêu cầu doanh nghiệp Trung Quốc xuất trình giấy phép kinh doanh do Cục quản lý hành chính công thương tại các tỉnh thành Trung Quốc cấp. Tuyệt đối không tin vào giấy phép kinh doanh mà trên đó có in hàng chữ “Chỉ có giá trị tham khảo”. Các thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc cũng có thể cung cấp danh sách các công ty đặc biệt này và báo giá dịch vụ thẩm định để doanh nghiệp Việt Nam tham khảo.

Ngoài ra, giấy phép kinh doanh nếu là bản sao phải có công chứng. Khi ký hợp đồng, doanh nghiệp Việt Nam không nên chấp nhận mẫu hợp đồng mà doanh nghiệp Trung Quốc đưa sẵn vì các điều khoản chế tài thường có lợi cho họ. Cơ quan trọng tài cần ghi vào hợp đồng là trọng tài kinh tế phía Việt Nam hoặc nước thứ ba. Vì việc xét xử tranh chấp thương mại theo cơ quan trọng tài tại Trung Quốc thường tốn kém, phức tạp về thủ tục và ngôn ngữ (nhiều doanh nghiệp nhỏ của Việt Nam đã phải bỏ cuộc khi theo đuổi các vụ kiện vì phí tổn cao khi cơ quan trọng tài ở Trung Quốc)- ông Chương cảnh báo.

Theo quy định của Bộ Thương mại Trung Quốc, chỉ có một số doanh nghiệp đặc biệt do Bộ Thương mại Trung Quốc chỉ định và cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực thẩm tra lý lịch thương nhân và khả năng kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp Trung Quốc. Phía doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu thẩm tra đối tác Trung Quốc đều phải thông qua các doanh nghiệp này và phải trả chi phí theo yêu cầu thẩm tra cụ thể.

Theo baocongthuongonline

 

Quảng cáo