Hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam: Thành tựu, vấn đề đặt ra và hướng giải quyết
08:35 (04/10/2012)
Congthuonghcm.vn - Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã không ngừng cố gắng hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động xuất, nhập khẩu không ngừng tăng về số lượng và mở rộng về phạm vi, đóng góp ngày càng tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy vậy, vẫn còn nhiều thách thức cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết trong tiến trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

                                                                                                                                     Xuất khẩu gạo

1. Thành tựu trong hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam 
Về xuất khẩu: 
Trong giai đoạn 2000-2011, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm sau tăng khá so với năm trước. Cụ thể: năm 2003 tăng 20,6% so với năm 2002; năm 2004 tăng 31,4 %; năm 2005 tăng 22,5%; 2006 tăng 22,7%; 2007 tăng 21,9%; 2008 tăng 29,1%. Ngoại trừ năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảnh kinh tế thế giới, kim ngạch xuất khẩu giảm 8,9%, các năm tiếp theo đều tăng cao: năm 2010 tăng 26,4%; năm 2011 tăng 33,3%. Kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này tăng 6,6 lần từ 14,5 tỷ USD năm 2000 lên 96,3 tỷ USD năm 2011. Trong năm 2012, mặc dù kinh tế gặp nhiều khó khăn, song xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng trưởng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 8 tháng đầu năm 2012 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. 

Đến năm 2011, Việt Nam có 23 nhóm hàng, mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó có 14 nhóm hàng, mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD, gồm dệt may: 14 tỷ USD; dầu thô: 7,2 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện: 6,9 tỷ USD; giày dép: 6,5 tỷ USD; thủy sản: 6,1 tỷ USD; điện tử máy tính: 4,2 tỷ USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng: 4,1 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ: 3,9 tỷ USD; gạo: 3,6 tỷ USD; cao su: 3,2 tỷ USD; cà phê: 2,7 tỷ USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm gần: 2,7 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng: 2,4 tỷ USD; xăng dầu: 2,1 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2012 đã có 11 nhóm hàng, mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD, gồm dệt, may: 9,7 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện: 7,34 tỷ USD; dầu thô: 5,5 tỷ USD; giày dép: 4,77 tỷ USD; điện tử, máy tính và linh kiện: 4,76 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng: 3,56 tỷ USD; thủy sản: 3,94 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng: 3,03 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ: 2,98 tỷ USD; cà phê: 2,7 tỷ USD và gạo: 2,5 tỷ USD. 

Cơ cấu xuất khẩu thay đổi theo hướng tích cực. Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông lâm, thủy sản tăng từ 4,2 tỷ USD năm 2000 lên 21,08 tỷ USD năm 2011 (tăng 5 lần), song tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu lại giảm từ 28,9% xuống còn 21,9%; nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 4,9 tỷ USD năm 2000 lên 32,53 tỷ USD năm 2010 (tăng trên 6,6 lần). 

Về nhập khẩu: 
Trong giai đoạn 2000 - 2011, nhập khẩu của Việt Nam cũng không ngừng tăng lên hàng năm. Kim ngạch nhập khẩu trong giai đoạn này tăng 6,8 lần (từ 15,6 tỷ USD năm 2000 lên 105,8 tỷ USD năm 2011), song tốc độ tăng có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây: năm 2007 tăng 39,8% so với năm 2006; năm 2008 tăng 28,6%; năm 2009 giảm 13%; năm 2010 tăng 21,2%; năm 2011 tăng 24,7%; 8 tháng đầu năm 2012 tăng so với cùng kỳ năm trước 6,7%. 

Nhờ xuất khẩu tăng mạnh trong khi nhập khẩu tăng chậm lại, nên nhập siêu cũng giảm mạnh kể từ năm 2009. Nếu như nhập siêu năm 2008 ở mức 18,0 tỷ USD (bằng 28% kim ngạch xuất khẩu), thì năm 2009 là 12,9 (22,5%); năm 2010 là 12,6 tỷ USD (17,5%); năm 2011 là 9,5 tỷ USD (9,9%); 8 tháng năm 2012 đạt 62 triệu USD (0,08%). 9 tháng năm 2012, do tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đã làm cho Việt Nam xuất siêu khoảng 34 triệu USD. Tuy nhiên, xuất siêu trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn, sản xuất suy giảm là dấu hiệu cần phải quan tâm để có những chính sách hỗ trợ thúc đẩy sản xuất. 

Nếu tính chung cho toàn giai đoạn từ năm 2000 đến hết năm 2011, tỉ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP của Việt Nam tăng từ 46,40% lên 79,12%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP tăng từ 96,50% lên đến 166,05%. Đây là mức cao so với các nước trong khu vực ASEAN (tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP năm 2011 của Indonesia là 43,47%; Malaixia là 144,49%; Thái Lan là 120,92%). 

2. Vấn đề đặt ra và hướng giải quyết 
Rõ ràng những thành tích về xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua là rất ấn tượng. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn tới, cần phải tiếp tục giải quyết nhiều vấn đề, đặc biệt là khắc phục tình trạng nhập siêu. Nếu tính chung cho toàn giai đoạn từ năm 2000 đến hết năm 2011, tỉ lệ kim ngạch nhập khẩu so với GDP của Việt Nam tăng từ 50,10% lên mức 86,93%, cao hơn nhiều so với một số nước khác trong khu vực như: Malaixia: 63,55%; Thái Lan: 56,80%; Indonesia: 19,64%. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu tư liệu sản xuất thường chiếm tỷ trọng cao - trên 90% kim ngạch nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu - chiếm trên 60% kim ngạch nhập khẩu. Điều này cho thấy, sản xuất của Việt Nam đang phụ thuộc rất lớn vào thị trường nguyên vật liệu nước ngoài, đồng thời chứng tỏ sản xuất trong nước vẫn mang nặng tính gia công, hiệu quả không cao. 

Mặc dù mức nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm, song chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ nhập siêu thấp của năm 2011 và thậm chí 9 tháng đầu năm 2012 còn xuất siêu, chưa chứng tỏ rằng hiệu quả của các hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh, mà ngược lại có nguyên nhân từ những khó khăn trong nền kinh tế. Do thị trường trong nước thu hẹp, mức hàng tồn kho tăng cao, tiếp cận tín dụng ngân hàng khó khăn, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh buộc phải thu hẹp và thậm chí dừng sản xuất, do đó nhu cầu về nguyên, nhiên, vật liệu cũng giảm. 

Nếu xem xét cơ cấu xuất nhập khẩu theo khu vực kinh tế, tình hình còn đáng lo ngại hơn: Tỷ trọng trong kim ngạch nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước giảm nhanh từ 72,2% năm 2000 xuống còn 54,84% vào năm 2011 và 47,48% trong 8 tháng đầu năm 2012, song tỷ trọng của khu vực này trong kim ngạch xuất khẩu vẫn thấp hơn rất nhiều: năm 2000 là 53,0%; năm 2011 là 43,1%; 8 tháng đầu năm 2012 là 37,8%. Điều này chứng tỏ nguyên nhân nhập siêu xuất phát chủ yếu từ khu vực kinh tế trong nước. 

Từ đó, để thực hiện được mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2011 và Chương trình hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2012 là giảm dần thâm hụt thương mại, kiểm soát nhập siêu khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu vào năm 2015 và tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020, phấn đấu cán cân thương mại thặng dư thời kỳ 2021 - 2030, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Đó là phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phát triển thị trường, xúc tiến thương mại; hoàn thiện chính sách thương mại, tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ logistics; đào tạo phát triển nguồn nhân lực,... 
Trong số các giải pháp trên, vai trò quyết định thuộc về nhóm giải pháp phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là phải nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế trong nước. Bên cạnh việc phải tiếp tục nghiên cứu đánh giá trên cơ sở khoa học để xác định rõ danh mục các mặt hàng xuất khẩu thực tế có tiềm năng, có lợi thế cạnh tranh cấp quốc gia trong bối cảnh mới của thị trường thế giới nhằm định hướng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, cần phải tiếp tục xây dựng và thực thi các cơ chế chính sách, như: 

Một là, hỗ trợ phát triển nhanh ngành công nghiệp hỗ trợ. Mức giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện đang ở mức rất thấp do sản xuất chủ yếu mang nặng tính gia công, lắp ráp từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu, không những cần gia tăng khối lượng hàng xuất khẩu, mà quan trọng hơn là phải không ngừng phát triển công nghiệp hỗ trợ, sử dụng nguyên vật liệu trong nước và cung cấp vật liệu, linh kiện cho các ngành sản xuất, lắp ráp thành phẩm. 
Hai là, sự liên kết hợp tác của các doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ, thậm chí vì lợi ích cục bộ mà các doanh nghiệp trong cùng một ngành thực hiện các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, làm suy giảm năng lực cạnh tranh lẫn nhau và của toàn ngành sản xuất nói chung, vì vậy cần khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu tăng cường liên kết, hợp tác, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định quốc tế, tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng xuất khẩu, đặc biệt là các ngành hàng có giá trị gia tăng cao. 


Theo 
TS. Đoàn Xuân Thủy -
Viện Kinh tế, Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh


 
Quảng cáo